兌 . 亨 . 利貞 .
Đoài. Hanh. Lợi trinh.
Đoài là vui vẻ, thỏa thuê, Rồi ra mới được mọi bề hanh thông. Chính trinh, mà trọn được lòng, Thế thời ích lợi, mới mong chu toàn.
Hình tượng quẻ
Thượng quái Đoài tượng hồ, hạ quái Đoài tượng hồ. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.
Phân tích toàn quẻ Thuần Đoài
Thoán từ
兌 . 亨 . 利貞 .
Đoài. Hanh. Lợi trinh.
Dịch.
Đoài là vui vẻ, thỏa thuê,
Rồi ra mới được mọi bề hanh thông.
Chính trinh, mà trọn được lòng,
Thế thời ích lợi, mới mong chu toàn.
Làm cho người đẹp lòng, đẹp dạ, người sẽ vui lòng cộng tác với mình để làm nên đại sự, vì thế nói Đoài hanh. Nhưng làm đẹp lòng người đây, không phải bằng những thủ đoạn bất chính, mà phải bằng những đường
lối chính đáng, những cách thức đường hoàng, như vậy mới hay, mới lợi (Lợi trinh). Trinh là minh chính, chính đáng.
Thoán Truyện. Thoán viết.
彖 曰 . 兌 . 說 也 . 剛 中 而 柔 外 . 說 以 利 貞 . 是 以 順 乎 天 . 而
應 乎 人 . 說 以 先 民 . 民 忘 其 勞 . 說 以 犯 難 . 民 忘 其 死 . 說 之
大 . 民 勸 矣 哉 .
Đoài. Duyệt dã. Cương trung nhi nhu ngoại. Duyệt dĩ lợi trinh. Thị dĩ thuận hồ thiên. Nhi ứng hồ nhân. Duyệt dĩ tiên dân. Dân vong kỳ lao. Duyệt dĩ phạm nạn. Dân vong kỳ tử. Duyệt chi đại. Dân khuyến hỹ tai.
Dịch.
Đoài là vui vẻ, thỏa thuê,
Trong cương, ngoài lại thêm bề thuận nhu.
Vui mà chính đáng vui hòa,
Vui theo chính ý, lợi là mấy mươi.
Trên thời thuận với lòng trời,
Dưới thời ứng với lòng người gần xa.
Khiến dân đẹp ý, vui hòa,
Dẫu dân mệt nhọc, cũng là quên đi,
Dân vui, dân gặp hiểm nguy,
Băng chừng hiểm nạn, quản gì tử vong.
Làm cho dân được vui lòng.
Thời thôi, hậu quả vô cùng lớn lao.
Thoán Truyện quảng luận Thoán từ và cho rằng làm chính trị , phải cố sao cho được lòng dân (Đoài duyệt dã).
Bậc Quốc quân, bên trong thì minh chính, cương trực, quả quyết; nhưng bên ngoài thì mềm mỏng, khéo léo đối với mọi người (Cương trung nhi nhu ngoại). Nói thế, vì Đoài có hai Hào Dương cương bên trong, một Hào Âm nhu ở ngoài. Dùng những phương pháp chính đáng, để chinh phục lòng người, làm cho mọi người vừa lòng, đẹp ý, như thế sẽ thâu hoạch được nhiều ích lợi (Duyệt dĩ lợi trinh). Hành xử như vậy, sẽ thuận ý trời, vừa lòng người (Thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân).
Cai trị dân, hướng dẫn dân, mà làm cho dân vui đẹp, thì dẫu khiến dân làm lụng vất vả, dân cũng chẳng nề hà, dẫu bắt dân xông pha gian khổ, dân cũng liều chết hy sinh (Duyệt dĩ tiên dân. Dân vong kỳ lao. Duyệt dĩ phạm nạn. Dân vong kỳ tử). Vì thế, đắc nhân tâm, là một công trình vĩ đại, làm được cho dân chúng hứng khởi, nô nức hợp tác với chính quyền, trong mọi chương trình kiến quốc, thực là cao siêu vậy (Duyệt chi đại dân khuyến hỹ tai). Đại Học chủ trương: Nhà cầm quyền, nếu được lòng dân chúng, ắt được đất nước. Nếu để mất lòng dân chúng, chẳng khỏi mất nước.
Tốn có nghĩa là vào, là nhân tình vật lý với nhau nên ưa nhau. Do vậy quẻ tiếp ngay sau quẻ Tốn là quẻ Thuần Đoài. Quẻ Thuần Đoài có tượng hình quẻ là hai quái Đoài. Mỗi quái của Đoài có hai hào Dương ở dưới và một hào Âm ở trên cùng thể hiện cương thì ở trong còn nhu thì ở ngoài. Tức là phải lấy cương cường kết hợp với hòa nhã để trị dân, dẫn lối nhân dân theo phương cách của mình. Hòa duyệt ở đây là cách người quân tử làm bằng sự chính đính.
Hình ảnh quẻ Đoài là hai đầm nước nương tựa vào nhau. Người quân tử xem tượng quẻ này mà nghĩ đến việc khi hai bên cùng duyệt lạc thì không gì có thể bằng bầu bạn với nhau, mọi thành quả sẽ nhân lên gấp bội phần.
Sơ lược từng hào của quẻ Thuần Đoài
Sơ Cửu : dương cương đắc chính, lại ở địa vị dưới, biết phận mình, không dám khoe tài, nên hòa duyệt được với người trên. Cát.
Cửu Nhị : dương cương đắc trung, ở dưới Lục Tam nhưng tự trọng, hòa với Tam mà vẫn chính đính, nên được hối vong.
Lục Tam : âm nhu, bất trung bất chính, lại ở giữa bốn dương, ví như gái bất chính ve vãn với nhiều trai.Hung.(Ví dụ : bọn hoạt đầu chính trị, đảng nào lên cầm quyền cũng nịnh bợ, xun xoe lập công).
Cửu Tứ : dương cương bất trung bất chính, ở giữa Lục Tam (tượng cho tiểu nhân hoặc tính xấu) và Cửu Ngũ (tượng cho quân tử hoặc nết hay), không biết lựa chọn đường nào. Chọn phe tiểu nhân đắc chí hay phe quân tử gian nan? Chọn những vui chơi trác táng hay giữ vững đạo tâm? Nếu Tứ biết chọn đường hay thì sẽ được vui mừng thực sự. ( Ví dụ Đường Minh Hoàng hay Trịnh Sâm đều là những bậc anh hùng, nhưng vì quá say đắm nữ sắc nên làm hỏng việc nước. Trái lại Tề Hoàn công cũng ham mê nữ sắc nhưng biết nghe lời hiền thần Quản Trọng nên vẫn giữ được ngôi bá chủ).
Cửu Ngũ : dương cương trung chính, vốn là bậc quân tử. Nhưng gần Thượng Lục là kẻ tiểu nhân, ở thời Đoài có thể bị Thượng rủ rê chơi bời
mà đánh mất nết hay của mình. (ví dụ Hậu chủ bị Hoàng Hạo rủ rê, trở thành hôn quân).
Thượng Lục : duyệt đã cùng cực rồi còn kéo dài ra, rõ là kẻ tiểu nhân vô sỉ, cố duyệt lòng người bằng những phương cách ti tiện. (Ví dụ một số quan lại dưới thời Pháp thuộc, ti tiện đến nỗi dâng vợ đẹp cho công sứ hay thống sứ).
Ý nghĩa của quẻ Thuần Đoài
Quẻ Thuần Đoài có tượng quẻ là hai đầm nước nương tựa vào nhau chỉ sự mát mẻ lại càng thêm mát mẻ, đồng thời gợi ý về sự hòa duyệt cùng chung sống. Ý nghĩa của quẻ Thuần Đoài cũng tương tự như quẻ Thuần Tốn. Cả hai quẻ này đều có chung mục đích về sự giao hảo với đối thủ. Tuy nhiên có điểm khác về mục đích cũng như đường lối.
Ở quẻ Thuần Tốn thì chú trọng đối thủ bằng mọi phương tiện, còn ở quẻ Thuần Đoài đề cao hòa duyệt. Hòa duyệt phải như thế nào cho chính đính sau đó mới xét đến hoàn cảnh phải làm thế nào để hòa duyệt với đối thủ của mình.
Tượng quẻ Đoài là Lệ Trạch Đoài có ý nghĩa là sự bám chặt. Đoài tức là đầm lầy. Đầm lầy thì luôn ẩm ướt có nhiều môi sinh cho các loài sinh vật được nảy nở, sinh sôi, phát triển sống động vui vẻ. Đặc biệt hai quái của quẻ đều là Đoài thì sự vui tươi, tốt đẹp này càng được nhân đôi lên. Quẻ Đoài báo hiệu thời vận đang đứng giữa vui thú, mọi sự đều thuận lợi và dễ đạt được như ý nguyện.
Quẻ Thuần Đoài tốt cho việc gì?
Quẻ Thuần Đoài là quẻ mang điềm tốt, có trong cương ngoài nhu, đan xen giữa tâm ý chính đính cùng sự hòa nhã. Dụng quẻ Đoài phát triển công danh sự nghiệp cũng là một thượng sách. Quẻ này đem lại quan lộc rộng mở, tài lộc thì dồi dào. Hơn nữa, về tình duyên gia đạo dụng quẻ Đoài sớm có được hạnh phúc bền chặt.
Sáu hào của quẻ
Hào 1 · Sơ Cửu
dương cương đắc chính, lại ở địa vị dưới, biết phận mình, không dám khoe tài, nên hòa duyệt được với người trên. Cát.
Hào 2 · Cửu Nhị
dương cương đắc trung, ở dưới Lục Tam nhưng tự trọng, hòa với Tam mà vẫn chính đính, nên được hối vong.
Hào 3 · Lục Tam
âm nhu, bất trung bất chính, lại ở giữa bốn dương, ví như gái bất chính ve vãn với nhiều trai.Hung.(Ví dụ : bọn hoạt đầu chính trị, đảng nào lên cầm quyền cũng nịnh bợ, xun xoe lập công).
Hào 4 · Cửu Tứ
dương cương bất trung bất chính, ở giữa Lục Tam (tượng cho tiểu nhân hoặc tính xấu) và Cửu Ngũ (tượng cho quân tử hoặc nết hay), không biết lựa chọn đường nào. Chọn phe tiểu nhân đắc chí hay phe quân tử gian nan? Chọn những vui chơi trác táng hay giữ vững đạo tâm? Nếu Tứ biết chọn đường hay thì sẽ được vui mừng thực sự. ( Ví dụ Đường Minh Hoàng hay Trịnh Sâm đều là những bậc anh hùng, nhưng vì quá say đắm nữ sắc nên làm hỏng việc nước. Trái lại Tề Hoàn công cũng ham mê nữ sắc nhưng biết nghe lời hiền thần Quản Trọng nên vẫn giữ được ngôi bá chủ).
Hào 5 · Cửu Ngũ
dương cương trung chính, vốn là bậc quân tử. Nhưng gần Thượng Lục là kẻ tiểu nhân, ở thời Đoài có thể bị Thượng rủ rê chơi bời
mà đánh mất nết hay của mình. (ví dụ Hậu chủ bị Hoàng Hạo rủ rê, trở thành hôn quân).
Hào 6 · Thượng Lục
duyệt đã cùng cực rồi còn kéo dài ra, rõ là kẻ tiểu nhân vô sỉ, cố duyệt lòng người bằng những phương cách ti tiện. (Ví dụ một số quan lại dưới thời Pháp thuộc, ti tiện đến nỗi dâng vợ đẹp cho công sứ hay thống sứ).
Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn
Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 317–322, biên soạn: simphongthuy.vn.
Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.
Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.