豐 . 亨 . 王假之 . 勿憂 . 宜日中 .
Phong. Hanh. Vương cách chi. Vật ưu. Nghi nhật trung.
Phong là phong thịnh, hanh thông, Phong doanh, phi đấng cửu trùng, nào ai? Đừng buồn, đừng sợ chuyện đời. Hãy như mặt nhật, sáng soi giữa trời.
Hình tượng quẻ
Thượng quái Chấn tượng sấm, hạ quái Ly tượng lửa. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.
Phân tích toàn quẻ Lôi Hỏa Phong
Thoán từ
豐 . 亨 . 王 假 之 . 勿 憂 . 宜 日 中 .
Phong. Hanh. Vương cách chi. Vật ưu. Nghi nhật trung.
Dịch.
Phong là phong thịnh, hanh thông,
Phong doanh, phi đấng cửu trùng, nào ai?
Đừng buồn, đừng sợ chuyện đời.
Hãy như mặt nhật, sáng soi giữa trời.
Khi đã đạt tới phong thịnh, mọi sự sẽ trở nên trôi chẩy (Phong hanh). Chỉ có các bậc vua chúa, mới đi đến chỗ phong đại được, vì chỉ có vua chúa, mới hội đủ điều kiện tinh thần, vật chất, nhân sự, để đi đến chỗ phong doanh, thái thịnh (Vương cách chi). Khi các bậc vương giả, đã đạt được tới giai đoạn thịnh đại, thì đừng có lo âu vì viễn ảnh suy vong trong
tương lai, mà hãy nên như mặt trời giữa khung trời thẳm, chiếu soi cho thiên hạ
Thoán Truyện. Thoán viết:
彖 曰 . 豐 . 大 也 . 明 以 動 . 故 豐 . 王 假 之 . 尚 大 也 . 勿 憂 宜
日 中 . 宜 照 天 下 也 . 日 中 則 昃 . 月 盈 則 食 . 天 地 盈 虛 . 與 時
消 息 . 而 況 人 於 人 乎 ? 況 於 鬼 神 乎 ?
Phong. Đại dã. Minh dĩ động. Cố phong. Vương cách chi. Thượng đại dã. Vật ưu nghi nhật trung. Nghi chiếu thiên hạ dã. Nhật trung tắc trắc. Nguyệt doanh tắc thực. Thiên địa doanh hư. Dữ thời tiêu tức. Nhi huống ư nhân hồ? Huống ư quỉ thần hồ?
Dịch. Thoán rằng:
Phong là phong đại, lớn lao,
Thông minh, hoạt động lẽ nào chẳng phong.
Phong doanh, chỉ đấng cửu trùng,
Cửu trùng mới thích vẫy vùng, bao la.
Chuyện đời, đừng sợ đừng lo,
Hãy như mặt nhật, nhởn nhơ giữa trời.
Chiếu soi khắp chốn, khắp nơi,
Khắp cùng thiên hạ,chiếu soi rỡ ràng.
Vừng dương cao sẽ xế ngang,
Trăng tròn, rồi sẽ chuyển sang vơi, gầy.
Đất trời, lúc rỗng, lúc đầy,
Thăng trầm, tăng giảm, đổi thay theo thời.
Đất trời còn thế, nữa người.
Quỉ thần âu cũng một bài thịnh suy.
Thoán Truyện định nghĩa Phong là lớn lao.
Muốn đạt tới Phong đại phải:
1-Thông minh sáng suốt. 2- Có nghị lực để thực hiện các chương trình, ý định của mình. 3-Là bậc Vương giả, mới có mộng lớn lao, những đồ án vĩ đại, mới có những điều kiện tinh thần, vật chất, nhân sự, để thực hiện ý muốn của mình (Minh dĩ động. Cố phong. Vương cách chi. Thượng đại dã). Khi đạt tới mức phong doanh cao đại, bậc vương giả hãy cứ an tâm làm ơn ích, treo gương sáng cho đời, như mặt trời trên khung trời thẳm, tỏa quang huy cùng khắp chốn nơi. (Vật ưu nghi nhật trung. Nghi chiếu thiên hạ dã).
Tiếp theo, Thoán Truyện bàn về việc doanh hư của trời đất, và cho đó là một định luật phổ quát.
- Mặt trời lên đến tột đỉnh, rồi sẽ xế tà dần.
-Mặt trăng tròn rồi lại khuyết.
Trời đất theo đà thời gian, đầy rồi lại vơi, tăng rồi lại giảm, thì sự đời làm sao mà cứ thịnh mãi, mà chẳng có suy (Nhật trung tắc trắc. Nguyệt doanh tắc thực. Thiên địa doanh hư. Dữ thời tiêu tức. Nhi huống ư nhân hồ. Huống ư quỷ thần hồ.)
Về tới nơi sẽ có kết quả, kết quả phải to lớn. Tiếp sau quẻ Lôi Trạch Quy Muội là quẻ Lôi Hỏa Phong. Phong chính là thịnh lớn. Tượng hình của quẻ Phong có Chấn ở trên, Ly ở dưới có động và minh. Xem tượng ấy
là muốn thịnh vượn được bền lâu thì phải lấy sức của bản thân ra mà hành động.
Quẻ Phong ứng với thời kỳ thịnh trị, cảnh ngộ có vinh hoa. Tuy nhiên nên nhớ rằng cái gì có thịnh rồi sẽ có suy. Phú quý ắt tới bất tiện là lẽ thường tình. Chính vì thế khi trong cảnh phú quý nên phải lo lắng giữ cho bền lâu, không sẽ sớm bị tiêu tán.
Sơ lược từng hào của quẻ Lôi Hỏa Phong
Sơ Cửu : ở nội quái, đối với Cửu Tứ ở ngoại quái. Tuy cả hai đều dương cương, nhưng không nhất thiết tương phản, có thể hợp tác miễn là cán cân lực lượng đôi bên ngang nhau, nếu cán cân đó nghiêng về một bên thì sẽ có tai vạ. (Ví dụ Mỹ-Nga. Lại ví dụ Liêm Pha và Lạn Tương Như).
Lục Nhị : đắc trung đắc chính, nhưng không ứng với Lục Ngũ là vị chí tôn, tượng như mặt trời bị che. Nếu Nhị theo Ngũ, e sẽ bị nghi kỵ và ghét. ở vào cảnh ngộ đó, Nhị chỉ nên giữ một lòng trung chính, không cầu cạnh ai, không đòi hỏi gì, sẽ được Cát. (ví dụ sau khi bình Sở, Hàn Tín đã bị Hán Cao Tổ nghi ngờ, còn liên lạc với kẻ phản, nên bị tru di. Trái lại, Tiêu Hà vẫn giữ trung kiên nên không việc gì).
Cửu Tam : dương cương đắc chính, nhưng lại ứng với Thượng Lục hôn ám. Trên Tam lại có Tứ cũng dương cương, như bị bịt bùng che kín, còn làm được việc gì lớn? Chỉ nên ngồi im tu dưỡng mới tránh được vạ. (Ví dụ Ngũ Tử Tư khuyên can Phù Sai không được, vì bị Bá Hi ngăn chận. Ngũ càng hăng hái khuyên can, càng nguy).
Cửu Tứ : dương cương cư âm vị, nhưng ở cạnh Lục Ngũ âm nhu ở vị cao hơn, tuy không thể thờ làm chủ, nhưng có thể kết làm đồng minh giúp
đỡ. (Ví dụ Lưu Bị ở với Lưu Biểu, tuy không thờ Lưu Biểu làm chủ, nhưng cũng có sẵn Kinh Châu để làm chỗ nương tựa).
Lục Ngũ : ở vị chí tôn vào thời Phong, tuy âm nhu nhưng có sơ, Tam, Tứ đều là tôi giỏi, biết trọng đãi những người đó giúp đỡ mình, thì có thể giữ vững được nền phong thịnh. (ví dụ Tề Tuyên vương là một hôn quân, nhưng nước Tề sẵn phong phú và được Án Anh cầm quyền, nên giữ được thịnh trị).
Thượng Lục : ở vị trí rất cao mà tài hèn, kiêu ngạo, ví như cái nhà bề ngoài thì lớn nhưng bề trong trống rỗng, chẳng có ai thèm tới gần kết bạn. Tất hung. (ví dụ Trung Hoa ở thế kỷ 19. Lại ví dụ Nguyễn Nhạc, tài đã kém Huệ lại không dung nổi Huệ, nên làm vua Thái Đức chẳng được bao lâu).
Ý nghĩa của quẻ Lôi Hỏa Phong
Quẻ Lôi Hỏa Phong có tượng quẻ là trên sấm sét, dưới là lửa. Hình dung quẻ Phong là trí quả quyết cùng đầu óc sáng suốt. Thượng quái Chấn Dương, hạ quái Ly Âm có sự kết hợp với nhau. Chí quẻ quyết đầu óc sáng suốt chỉ dẫn, chí quả quyết thể hiện kế sách của mình. Đây được ví là cuộc rồng mây gặp hội.
Tượng quẻ Phong là Lôi Điện Giai Chí ý nghĩa là sấm chớp đều đến. Thượng quái Chấn là chuyển động, hạ quái Ly là ánh sáng. Quẻ này được xem là quẻ may mắn, chứa yếu tố vô cùng thuận lợi.
Quẻ Lôi Hỏa Phong tốt cho việc gì?
Thời kỳ quẻ Lôi Hỏa Phong sáng sủa, rất tốt, công danh sự nghiệp hanh thông, tài lộc sáng suốt. Tuy nhiên chớ quên rằng cái gì cũng có sự biến dịch, lạc cực sinh bi, nếu tự mãn trong cảnh phong phú là dọn đường cho những tai họa về sau. Tai họa này không thể lường hết được.
Quẻ Phong cũng tốt cho tình duyên và gia đạo. Người dụng quẻ Phong trong tình duyên sẽ có tình yêu đôi lứa nồng thắm, gia đạo hòa thuận vui vẻ. Trong tình cảm cũng cần có óc sáng suốt của Ly, mọi sự mới được lâu bền.
Sáu hào của quẻ
Hào 1 · Sơ Cửu
ở nội quái, đối với Cửu Tứ ở ngoại quái. Tuy cả hai đều dương cương, nhưng không nhất thiết tương phản, có thể hợp tác miễn là cán cân lực lượng đôi bên ngang nhau, nếu cán cân đó nghiêng về một bên thì sẽ có tai vạ. (Ví dụ Mỹ-Nga. Lại ví dụ Liêm Pha và Lạn Tương Như).
Hào 2 · Lục Nhị
đắc trung đắc chính, nhưng không ứng với Lục Ngũ là vị chí tôn, tượng như mặt trời bị che. Nếu Nhị theo Ngũ, e sẽ bị nghi kỵ và ghét. ở vào cảnh ngộ đó, Nhị chỉ nên giữ một lòng trung chính, không cầu cạnh ai, không đòi hỏi gì, sẽ được Cát. (ví dụ sau khi bình Sở, Hàn Tín đã bị Hán Cao Tổ nghi ngờ, còn liên lạc với kẻ phản, nên bị tru di. Trái lại, Tiêu Hà vẫn giữ trung kiên nên không việc gì).
Hào 3 · Cửu Tam
dương cương đắc chính, nhưng lại ứng với Thượng Lục hôn ám. Trên Tam lại có Tứ cũng dương cương, như bị bịt bùng che kín, còn làm được việc gì lớn? Chỉ nên ngồi im tu dưỡng mới tránh được vạ. (Ví dụ Ngũ Tử Tư khuyên can Phù Sai không được, vì bị Bá Hi ngăn chận. Ngũ càng hăng hái khuyên can, càng nguy).
Hào 4 · Cửu Tứ
dương cương cư âm vị, nhưng ở cạnh Lục Ngũ âm nhu ở vị cao hơn, tuy không thể thờ làm chủ, nhưng có thể kết làm đồng minh giúp
đỡ. (Ví dụ Lưu Bị ở với Lưu Biểu, tuy không thờ Lưu Biểu làm chủ, nhưng cũng có sẵn Kinh Châu để làm chỗ nương tựa).
Hào 5 · Lục Ngũ
ở vị chí tôn vào thời Phong, tuy âm nhu nhưng có sơ, Tam, Tứ đều là tôi giỏi, biết trọng đãi những người đó giúp đỡ mình, thì có thể giữ vững được nền phong thịnh. (ví dụ Tề Tuyên vương là một hôn quân, nhưng nước Tề sẵn phong phú và được Án Anh cầm quyền, nên giữ được thịnh trị).
Hào 6 · Thượng Lục
ở vị trí rất cao mà tài hèn, kiêu ngạo, ví như cái nhà bề ngoài thì lớn nhưng bề trong trống rỗng, chẳng có ai thèm tới gần kết bạn. Tất hung. (ví dụ Trung Hoa ở thế kỷ 19. Lại ví dụ Nguyễn Nhạc, tài đã kém Huệ lại không dung nổi Huệ, nên làm vua Thái Đức chẳng được bao lâu).
Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn
Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 300–305, biên soạn: simphongthuy.vn.
Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.
Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.