Thăng. Nguyên hanh. Dụng kiến đại nhân. Vật tuất. Nam chinh cát.
Thăng là tiến mãi, tiến lên. Tiến trình thanh thản, chu tuyền hanh thông. Được người tài đức giúp công, Thời thôi khỏi phải nhọc lòng âu lo. Tiến lên, đừng có chần chờ, Rồi ra mọi sự êm ru, tốt lành.
Hình tượng quẻ
Thượng quái Khôn tượng đất, hạ quái Tốn tượng gió. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.
Phân tích toàn quẻ Địa Phong Thăng
Thoán từ
Thăng. Nguyên hanh. Dụng kiến đại nhân. Vật tuất. Nam chinh cát.
Dịch.
Thăng là tiến mãi, tiến lên.
Tiến trình thanh thản, chu tuyền hanh thông.
Được người tài đức giúp công,
Thời thôi khỏi phải nhọc lòng âu lo.
Tiến lên, đừng có chần chờ,
Rồi ra mọi sự êm ru, tốt lành.
Thoán từ: Thăng là thăng tiến, mà đã thăng tiến tất nhiên sẽ hanh thông (Thăng. Nguyên hanh). Muốn tiến lên cần có người trên phù trợ. Được như vậy, sẽ không còn phải lo lắng (Dụng kiến đại nhân. Vật tuất). Cố gắng tiến về phía quang minh, tiến tới một tiền trình cao đại, thời hay, thời tốt biết mấy mươi.
Nam là phía của ánh sáng, của văn minh, nên người Trung Hoa vốn trọng phía Nam. Vua chúa xưa thường quay về phía nam mà trị dân, ý muốn nói trị dân để đưa dân tới quang minh, thịnh trị (Nam chinh cát).
Thoán Truyện. Thoán viết:
彖 曰 . 柔 以 時 升 . 巽 而 順 . 剛 中 而 應 . 是 以 大 亨 . 用 見 大
人 . 勿 恤 . 有 慶 也 . 南 征 吉 . 志 行 也 .
Nhu dĩ thời thăng. Tốn nhi thuận. Cương trung nhi ứng. Thị dĩ đại hanh. Dụng kiến đại nhân. Vật tuất. Hữu khánh dã. Nam chinh cát. Chí hành dã.
Dịch.
Thoán rằng: Nhu tiến theo thời,
Khiêm cung, thuận thảo, thêm tài, thêm hay.
Dưới hay, trên lại liên tài,
Cho nên mọi sự êm xuôi, vẹn toàn.
Dùng người tài đức, mới ngoan,
Rồi ra phúc khánh, muôn vàn khỏi lo.
Tiến lên, đừng có chần chờ,
Đổi điều nguyện ước cho ra thành toàn.
Thoán Truyện: Người dưới muốn tiến lên, cần phải có thời cơ thuận tiện (Nhu dĩ thời thăng). Ví như có gặp loạn lạc, giặc giã, thì anh hùng, Hào kiệt mới có cơ tiến thân. Có gặp khoa thi, thì các anh tài, dân giả mới có cơ nhìn thấy bệ rồng. Muốn tiến lên, cần phải khiêm tốn, quyền biến (Tốn nhi thuận), phải có chân tài, chân đức, lại phải có người trên cố cập
(Cương trung nhi ứng), có được như vậy thì đường công danh mới thanh thản, dễ dàng (thị dĩ đại hanh). Trên con đường tiến thân, mà được cấp trên hỗ trợ, thì khỏi còn lo khó khăn, trở ngại và sẽ được phúc khánh (Dụng kiến đại nhân. Vật tuất hữu khánh dã).
Như vậy sẽ thỏa chí tang bồng, vì đường mây đã rộng mở, công danh kia như đã đón chờ ai (Nam chinh cát. Chí hành dã). Mới hay ở đời hữu chí cánh thành, và miếng đỉnh chung trời chẳng riêng ai.
Đọc lịch sử, ta thấy biết bao hàn sĩ trở thành danh nhân, biết bao anh hùng đã xuất thân từ hang cùng, ngõ hẻm.
Khi tụ nhóm nhiều sẽ dẫn tới chồng chất lên cao, nên tiếp sau quẻ Thủy Địa Thủy là quẻ Địa Phong Thăng. Quẻ Thăng có tượng hình quẻ Khôn ở trên, Tốn ở dưới. Khôn thuộc hành Thổ, Tốn thuộc hành Mộc, tức là cây mọc ở trên mặt đất, cây sẽ lớn dần dần lên. Tốn là đức khiêm, Khôn là đức thuận nên người khác thuận theo mình mà tiến lên nên cát. Bậc quân tử xem tượng quẻ Thăng là tu đức từ cái nhỏ đến cái cao đại.
Sơ lược từng hào của quẻ Địa Phong Thăng
Sơ Lục : âm nhu, thuận với hai dương ở trên, vào thời thăng rất tốt. (Ví dụ Ngọc Hân công chúa vâng lệnh cha kết hôn với Nguyễn Huệ).
Cửu Nhị : có tài, ứng với Lục Ngũ ngu tối, như tôi giỏi thờ vua hèn, nếu thành thực chỉ bảo cho Ngũ tiến, thì được vô cựu và ban phúc cho cả thiên hạ. (Ví dụ Khổng Minh hết lòng phò tá Hậu Chủ, khiến cho Thục dân thưa đất nghèo cũng giữ được thế chân vạc với Ngụỵ, Ngô).
Cửu Tam : dương cương đắc chính, lại ở nội Tốn tức là có đức Khiêm, nên tam âm ở trên dễ dàng theo Tam tiến lên như vào chỗ không người. (Ví dụ Chu Công Đán có đại tài lại khiêm tốn, nên giữ được cơ nghiệp nhà Chu mới thành lập được vững bền).
Dương Đình Khuê 167 Lục Tứ : nhu thuận đắc chính, trên thuận với Lục Ngũ, dưới thuận với hạ quái, ví như văn vương ở Kỳ Sơn vẫn tòng phục vua Trụ, mà cả thiên hạ đều theo mình).
Lục Ngũ : ở vị chí tôn, lại ứng với Cửu Nhị là bậc hiền thần, nên dễ dàng tiến lên như người bước lên thảm vậy. Chỉ cần giữ được đức nhu thuận, đừng thấy thắng lợi dễ quá mà sinh kiêu ngạo. (Ví dụ Võ Vương nhờ có Khương Tử Nha, đánh bại được vua Trụ dễ dàng).
Thượng Lục : ở cuối thời Thăng, còn hôn ám cầu thăng mãi, tất sẽ bị ngã. ( Ví dụ Trịnh Sâm lòng tham không đáy, đã nắm hết quyền bính còn muốn soán ngôi vua Lê, gây nên chia rẽ giữa triều thần, đào mồ chôn cơ nghiệp 200 năm của họ Trịnh).
Ý nghĩa của quẻ Địa Phong Thăng
Quẻ Địa Phong Thăng tượng quẻ là gió thổi tung đất lên trên, biểu tượng cho cơ hội thuận tiến về mọi hoạt động đang tới. Nội quái Tốn tức khiêm nhường có đức tính gần giống với Đoài là hòa duyệt. Quẻ Địa Trạch Lâm có ngoại quái Khôn, nội quái Đoài có ý nghĩa là làm lớn, ý nghĩa này cũng tương tự với quẻ Địa Phong Thăng. Khác nhau giữa 2 quẻ này ở điểm là Đoài có một hào âm nằm trên hai hào dương, còn Tốn là hai hào Dương nằm trên một hào âm. Cho nên dù hai quẻ gần tương tự nhưng cũng có một số điểm khác.
Thăng được hiểu là sự mọc lên, vươn lên cao, sự tiến bộ hoặc tiến tới. Tượng quẻ Thăng là Đại Trung Sinh Mộc nghĩa là trong lòng đất sinh ra cây gần giống như mầm non vươn lên, sẵn sàng tung cành lá, tung cành lên trên mặt đất để thành cây cao lớn. Quẻ này báo hiệu thời kỳ huy hoàng, thành công, mọi việc được tốt đẹp và tài lộc đương đi đến đỉnh cao.
Quẻ Địa Phong Thăng tốt cho việc gì?
Dù ở trong thời đại nào muốn thăng tiến thì cần gặp thời và bản thân phải luôn cố gắng. Quẻ Địa Phong Thăng mang đến thời vận nâng cao địa vị tốt đẹp hiếm có, nếu biết tận dụng sẽ đạt được thăng tiến sự nghiệp, công danh tới mức bá chủ chư hầu. Quẻ này là một trong những quẻ tốt nhất cho thăng quan tiến chức.
Sáu hào của quẻ
Hào 1 · Sơ Lục
âm nhu, thuận với hai dương ở trên, vào thời thăng rất tốt. (Ví dụ Ngọc Hân công chúa vâng lệnh cha kết hôn với Nguyễn Huệ).
Hào 2 · Cửu Nhị
có tài, ứng với Lục Ngũ ngu tối, như tôi giỏi thờ vua hèn, nếu thành thực chỉ bảo cho Ngũ tiến, thì được vô cựu và ban phúc cho cả thiên hạ. (Ví dụ Khổng Minh hết lòng phò tá Hậu Chủ, khiến cho Thục dân thưa đất nghèo cũng giữ được thế chân vạc với Ngụỵ, Ngô).
Hào 3 · Cửu Tam
dương cương đắc chính, lại ở nội Tốn tức là có đức Khiêm, nên tam âm ở trên dễ dàng theo Tam tiến lên như vào chỗ không người. (Ví dụ Chu Công Đán có đại tài lại khiêm tốn, nên giữ được cơ nghiệp nhà Chu mới thành lập được vững bền).
Dương Đình Khuê 167
Hào 4 · Lục Tứ
nhu thuận đắc chính, trên thuận với Lục Ngũ, dưới thuận với hạ quái, ví như văn vương ở Kỳ Sơn vẫn tòng phục vua Trụ, mà cả thiên hạ đều theo mình).
Hào 5 · Lục Ngũ
ở vị chí tôn, lại ứng với Cửu Nhị là bậc hiền thần, nên dễ dàng tiến lên như người bước lên thảm vậy. Chỉ cần giữ được đức nhu thuận, đừng thấy thắng lợi dễ quá mà sinh kiêu ngạo. (Ví dụ Võ Vương nhờ có Khương Tử Nha, đánh bại được vua Trụ dễ dàng).
Hào 6 · Thượng Lục
ở cuối thời Thăng, còn hôn ám cầu thăng mãi, tất sẽ bị ngã. ( Ví dụ Trịnh Sâm lòng tham không đáy, đã nắm hết quyền bính còn muốn soán ngôi vua Lê, gây nên chia rẽ giữa triều thần, đào mồ chôn cơ nghiệp 200 năm của họ Trịnh).
Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn
Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 246–250, biên soạn: simphongthuy.vn.
Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.
Phần trích PDF không có Hán văn Thoán từ ở quẻ này; dùng phiên âm và bản dịch đã có, không tự bổ sung Hán văn.
Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.