萃 . 亨 . 王假有廟 . 利見大人 . 亨 . 利貞 . 用大牲吉 . 利有攸往 .
Tụy. Hanh. Vương cách hữu miếu. Lợi kiến đại mhân. Hanh. Lợi trinh. Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng.
Tụy là tụ chúng hợp quần, Rồi ra thế sự được phần hanh thông. Vua ra tế tự miếu tông, U minh nối kết giải đồng gần xa. Gặp người đức độ, tài hoa, Thời hay, thời lợi, biết là mấy mươi. Lấy trung, lấy chính hợp người, Mới mong sẽ được vẹn mười lợi hanh. Chững chàng sửa lễ tam sanh, Linh đình, trang trọng tốt lành mấy mươi. Hãy nên tính chuyện ngược xuôi, Công trình âu sẽ chảy trôi, vẹn toàn.
Hình tượng quẻ
Thượng quái Đoài tượng hồ, hạ quái Khôn tượng đất. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.
Phân tích toàn quẻ Trạch Địa Tụy
Thoán từ
萃 . 亨 . 王 假 有 廟 . 利 見 大 人 . 亨 . 利 貞 . 用 大 牲 吉 . 利 有
攸 往 .
Thoán từ.
Tụy. Hanh. Vương cách hữu miếu. Lợi kiến đại mhân. Hanh.
Lợi trinh. Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng.
Dịch.
Tụy là tụ chúng hợp quần,
Rồi ra thế sự được phần hanh thông.
Vua ra tế tự miếu tông,
U minh nối kết giải đồng gần xa.
Gặp người đức độ, tài hoa,
Thời hay, thời lợi, biết là mấy mươi.
Lấy trung, lấy chính hợp người,
Mới mong sẽ được vẹn mười lợi hanh.
Chững chàng sửa lễ tam sanh,
Linh đình, trang trọng tốt lành mấy mươi.
Hãy nên tính chuyện ngược xuôi,
Công trình âu sẽ chảy trôi, vẹn toàn.
Tụ hợp, hợp quần là điều hay, điều tốt (Tụy hanh).
Nhưng tụ hợp phải tuân theo những qui luật, những đường lối nhất định.
1. Trước tiên, phải có tín ngưỡng, có chủ thuyết để nối kết lòng người. Vì thế vua phải ra nơi miếu tông làm việc tế tự (Vương cách hữu miếu). Tức là phải dùng tín ngưỡng làm chiêu bài qui dân, tụ chúng.
2. Muốn qui dân, tụ chúng, phải có người lãnh đạo cho hay, cho giỏi. Gặp được người lãnh đạo hay, dân nước sẽ bước vào con đường hanh thông, thái thịnh (Lợi kiến đại nhân. Hanh).
3. Phải có chính nghĩa, chính đạo, mới hay, mới lợi (Lợi trinh). Gian manh cũng có thể vì lợi lộc mà kết thành bầy bọn, nhưng họ sẽ làm hại thiên hạ. Anh hùng, Hào kiệt trên đời chiêu dân, lập quốc, ví dụ như Moise, vì có chính nghĩa, nên mới lưu danh muôn thuở.
4. Phải tổ chức những cuộc tế lễ linh đình (Dụng đại sinh cát). Đó là một cách xử thế để chinh phục lòng dân.
Những cuộc hội hè, rước sách lớn, những cuộc biểu tình lớn, đều có mục đích là gây một ảnh hưởng tâm lý mạnh mẽ nơi dân con, cho họ trông thấy mà tin.
5. Lại phải thi hành một công chuyện gì ích quốc, lợi dân, cho dân mục kích nhãn tiền, như vậy mới hay, mới lợi (Lợi hữu du vãng).
Thoán Truyện. Thoán viết:
彖 曰 . 萃 . 聚 也 . 順 以 說 . 剛 中 而 應 . 故 聚 也 . 王 假 有 廟 .
致 孝 享 也 . 利 見 大 人 亨 . 聚 以 正 也 . 用 大 牲 吉 . 利 有 攸 往 . 順
天 命 也 . 觀 其 所 聚 . 而 天 地 萬 物 之 情 可 見 矣 .
Tụy. Tụ dã. Thuận dĩ duyệt. Cương trung nhi ứng. Cố tụ dã. Vương cách hữu miếu. Trí hiếu hưởng dã. Lợi kiến đại nhân hanh. Tụ dĩ chính dã. Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng. Thuận thiên mệnh dã. Quan kỳ sở tụ. Nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hỹ.
Dịch. Thoán rằng:
Tụ là tụ chúng hợp quần,
Rồi ra thế sự được phần hanh thông.
Vua ra tế tự miếu tông,
U minh nối kết giải đồng gần xa.
Gặp người đức độ, tài hoa,
Thời hay, thời lợi, biết là mấy mươi.
Lấy trung, lấy chính họp người,
Mới mong sẽ được vẹn mười lợi hanh.
Chững chàng sửa lễ tam sanh,
Linh đình, trang trọng, tốt lành mấy mươi,
Hãy nên tính chuyện ngược xuôi,
Công trình âu sẽ chẩy trôi, vẹn toàn.
Thoán Truyện trước tiên định nghĩa Tụy là Tụ họp. (Tụy tụ dã). Muốn qui dân, tụ chúng, người dưới phải thuận phục người trên, người trên phải sung sướng khi được dắt dìu kẻ dưới. Người trên thì giỏi giang minh chính, kẻ dưới thì hỗ trợ, tuân phục hết lòng. Có như vậy mới qui dân, tụ chúng được (Thuận dĩ duyệt. Cương trung nhi ứng cố tụ dã.)
Muốn qui tụ dân chúng, người lãnh đạo phải lấy tín ngưỡng làm keo sơn gắn bó lòng người. Phải đích thân đứng ra tế lễ, để dạy dân kính trời, và hiếu với tổ tiên (Vương cách hữu miếu. Trí hiếu hưởng dã).
Lại cũng phải khéo biết dùng những lễ nghi, hình thức bên ngoài, những công trình cụ thể, nhãn tiền để cho dân thấy mà tin phục (Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng. Thuận thiên mệnh dã). Làm như vậy tức là thuận theo những định luật tự nhiên vậy. Ngoài ra, Tụy còn cho ta thấy rõ tình đời. Chữ rằng: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Có giống nhau mới tụ họp cùng nhau.
Cho nên cứ nhìn xem cách tụ hợp của muôn vật, chúng ta sẽ biết được tình ý chúng. Nơi con người, cứ xem họ hợp đoàn với ai, sẽ biết được tình ý họ. Nhà thơ tìm bạn họa thơ; người ăn chơi đánh bạn với kẻ ăn chơi; người đạo đức giao du với người đạo đức... Thế là xem cách hội họp, mà hiểu được tình người (Quan kỳ sở tụ. Nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hỹ).
Quẻ Cấu là sự đụng gặp, có gặp thì mới thành bầy. Cho nên tiếp ngay sau quẻ Thiên Phong Cấu là quẻ Trạch Địa Tụy. Tượng hình quẻ Tụy có Đoài ở trên, Khôn ở dưới là nước tích tụ ở trên mặt đất.
Quẻ Tụy ứng với thời kỳ lấy lòng thành thực thông qua thuận thụ, hòa duyệt. Việc tụ nhóm người đông thường sinh ra những nghi kỵ, hay tranh nhau nên cần đề phòng những hậu họa tiềm ẩn.
Sơ lược từng hào của quẻ Trạch Địa Tụy
Sơ Lục : chính ứng với Cửu tứ, nếu theo Tứ thì được tốt. Nhưng Sơ lại dại dột đàn đúm với Lục Nhị, Lục tam để làm sằng. Nếu Sơ dứt được bọn đó đi thì mới được vô cựu. (Ví dụ Dương Tu không làm tôi vua Hán mà làm chủ bạ trong phủ Tào thừa tướng, sau bị hại. Trái lại, Cam Ninh bỏ Hoàng Tổ, theo về Tôn Quyền, được nổi danh).
Lục Nhị : nhu thuận trung chính, lại ứng với Cửu Ngũ, rất lợi ở thời Tụy. Nếu kéo được cả bầy Sơ, Tam cùng làm với mình theo Ngũ thì sẽ được cát. (Ví dụ Dương Tái Công kéo cả bầy thủy khấu đầu hàng Nhạc Phi).
Lục Tam : bất trung bất chính, không tụy được với ai. Chỉ còn có cách cầu với Thượng cũng âm nhu như mình, tuy có xấu hổ chút đỉnh, nhưng vẫn là vô cựu. (Ví dụ nguyễn Hữu Chỉnh không lấy được lòng tin của Tây sơn, còn bị dân Bắc phỉ nhổ).
Cửu Tứ : dương hào cư âm vị, trên có Cửu Ngũ là bậc tài đức, dưới có quần âm tiểu nhân. Vị không đáng làm lãnh tụ họp người, phải tạo nhân tốt lành mới vô cựu. (Ví dụ Viên Thiệu nhờ công lao tổ tiên, được bầu làm minh chủ chống Đổng Trác, nhưng tham lam ngu tối nên hỏng việc).
Cửu Ngũ : ở vị chí tôn, rất xứng đáng để tụ người. Nếu còn có người chưa tin theo, Ngũ cứ việc giữ mình thành thật, thì sẽ thành công. (Ví dụ Tôn Dật Tiên, cha đẻ ra Trung Hoa dân Quốc).
Thượng Lục : tài hèn, lại ở cuối thời Tụy, nên không tụ được ai, không thể an hưởng vị trên được. (Ví dụ Viên Thế Khải muốn lập lại đế chế, nhưng thất bại nhục nhã).
Ý nghĩa của quẻ Trạch Địa Tụy
Quẻ Trạch Địa Tụy tượng quẻ có nước đầm tụ ở trên mặt đất. Từ đó gợi ra sự tập hợp của nhóm người. Nếu như quẻ Thủy Địa Tỷ có thượng quái là Khảm mang ý nghĩa là sự nguy hiểm, quần chúng có sự bất mãn thì quẻ Tụy có thượng quái là Đoài, quần chúng tuân theo, dễ bảo, trên tinh thần tôn trọng, vui vẻ.
Tụy có ý nghĩa là kết hợp, đoàn tụ hay sự gom lại. Tượng quẻ của quẻ Tụy là Trạch Thượng Ư Địa là trên mặt đất có đầm, tượng trưng cho sự vâng lời, phục tùng và hạnh phúc. Quẻ này mang đến vận số thịnh vượng, mọi mong muốn đều có thể thực hiện được.
Quẻ Trạch Địa Tụy tốt cho việc gì?
Quẻ Trạch Địa Tụy mang điềm tốt, mọi điều đều được thuận. Công danh sự nghiệp có nhiều cơ hội phát triển, chọn kinh doanh buôn bán thì thu được nhiều tài lộc. Tình duyên - gia đạo đều được hạnh phúc, yên bình.
Sáu hào của quẻ
Hào 1 · Sơ Lục
chính ứng với Cửu tứ, nếu theo Tứ thì được tốt. Nhưng Sơ lại dại dột đàn đúm với Lục Nhị, Lục tam để làm sằng. Nếu Sơ dứt được bọn đó đi thì mới được vô cựu. (Ví dụ Dương Tu không làm tôi vua Hán mà làm chủ bạ trong phủ Tào thừa tướng, sau bị hại. Trái lại, Cam Ninh bỏ Hoàng Tổ, theo về Tôn Quyền, được nổi danh).
Hào 2 · Lục Nhị
nhu thuận trung chính, lại ứng với Cửu Ngũ, rất lợi ở thời Tụy. Nếu kéo được cả bầy Sơ, Tam cùng làm với mình theo Ngũ thì sẽ được cát. (Ví dụ Dương Tái Công kéo cả bầy thủy khấu đầu hàng Nhạc Phi).
Hào 3 · Lục Tam
bất trung bất chính, không tụy được với ai. Chỉ còn có cách cầu với Thượng cũng âm nhu như mình, tuy có xấu hổ chút đỉnh, nhưng vẫn là vô cựu. (Ví dụ nguyễn Hữu Chỉnh không lấy được lòng tin của Tây sơn, còn bị dân Bắc phỉ nhổ).
Hào 4 · Cửu Tứ
dương hào cư âm vị, trên có Cửu Ngũ là bậc tài đức, dưới có quần âm tiểu nhân. Vị không đáng làm lãnh tụ họp người, phải tạo nhân tốt lành mới vô cựu. (Ví dụ Viên Thiệu nhờ công lao tổ tiên, được bầu làm minh chủ chống Đổng Trác, nhưng tham lam ngu tối nên hỏng việc).
Hào 5 · Cửu Ngũ
ở vị chí tôn, rất xứng đáng để tụ người. Nếu còn có người chưa tin theo, Ngũ cứ việc giữ mình thành thật, thì sẽ thành công. (Ví dụ Tôn Dật Tiên, cha đẻ ra Trung Hoa dân Quốc).
Hào 6 · Thượng Lục
tài hèn, lại ở cuối thời Tụy, nên không tụ được ai, không thể an hưởng vị trên được. (Ví dụ Viên Thế Khải muốn lập lại đế chế, nhưng thất bại nhục nhã).
Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn
Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 240–245, biên soạn: simphongthuy.vn.
Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.
Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.