明夷 . 利艱貞 .
Minh Di. Lợi gian trinh.
Minh Di mà biết nguy nan, Lại luôn chính trực, mới gan, mới lời.
Hình tượng quẻ
Thượng quái Khôn tượng đất, hạ quái Ly tượng lửa. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.
Phân tích toàn quẻ Địa Hỏa Minh Di
Thoán từ
明 夷 . 利 艱 貞 .
Minh Di. Lợi gian trinh.
Dịch.
Minh Di mà biết nguy nan,
Lại luôn chính trực, mới gan, mới lời.
Minh Di, là thời quân tử lâm nàn, nên Thoán từ mở đầu bằng một lời khuyên: Gian nan mà vẫn giữ được chính lý, chính đạo, mới hay: Minh Di. Lợi gian trinh.
Thoán Truyện.
彖 曰 . 明 入 地 中 . 明 夷 . 內文 明 而 外 柔 順 . 以 蒙 大 難 . 文 王
以 之 .
利 艱 貞 . 晦 其 明 也 . 內 難 而 能 正 其 志 . 箕 子 以 之 .
Thoán viết:
Minh nhập địa trung. Minh Di. Nội văn minh nhi ngoại nhu thuận.
Dĩ mông đại nạn. Văn vương dĩ chi. Lợi gian trinh. Hối kỳ minh dã.
Nội nạn nhi năng chính kỳ chí. Cơ Tử dĩ chi.
Dịch.
Thoán rằng: sáng nhập đất rồi,
Minh Di là sáng chôn vùi tầng sâu.
Trong tuy sáng tỏ mặc dầu,
Ngoài thời nhu thuận, qua cầu gian nan.
Văn Vương gặp buổi tai nàn,
Đã theo lối đó, mới an mới lành.
Gian nan, mà vẫn trung trinh,
Thế thời ích lợi âu đành mấy mươi.
Giấu che thông sáng với đời,
Gặp cơn hoạn nạn, chẳng rời trung trinh.
Sắt son giữa buổi điêu linh,
Được như Cơ Tử, sử sanh mấy người.
Thoán Truyện giải hai chữ Minh Di là Minh nhập địa trung, nghĩa là Ánh sáng đã vào lòng đất
Thoán Truyện bày cách cho người quân tử xử sự khi gặp thời buổi Minh Di, khi mà hôn quân những toan hãm hại mình. Lúc ấy người quân tử, tuy tâm thần bên trong sáng láng, nhưng bên ngoài phải tỏ ra phục
tùng, nhu thuận. Đó là đường lối Văn vương đã theo, khi gặp đại nạn, và bị Trụ Vương cầm tù bảy năm ở Dũ Lý.
Thoán rằng: Nội văn minh. Nhi ngoại nhu thuận. Dĩ mông đại nạn. Văn Vương dĩ chi. Mông đây là gặp.
Gặp thời buổi gian nan như vậy, phải biết che dấu sự thông sáng của mình, mà vẫn giữ tròn được chính đạo, thế mới là đường lối vẹn toàn. Cơ Tử đã theo được đường lối này. Lợi gian trinh. Hối kỳ minh dã. Nội nạn nhi năng chính kỳ chí. Cơ Tử dĩ chi. Gặp lúc hôn quân nghi kỵ, mà không dấu được sự thông minh sáng láng của mình, tất sẽ gặp hoạn nạn; bằng không giữ được lòng ngay chính, thì không phải là những trang hiền minh, trung liệt.
Người xưa nói: Người có nhân, không vì thịnh suy, mà đổi tiết, Người có nghĩa, không vì còn, mất mà thay lòng. Thực đúng là trường hợp Cơ Tử. Văn vương và Cơ Tử chẳng những đã khéo xử, trong thời Minh Di, nên đã thoát được tay Trụ Vương hãm hại, mà còn lợi dụng được thời Minh Di, mà làm nên sự nghiệp.
Văn Vương, trong 7 năm bị giam cầm ở Dũ Lý, đã biết lợi dụng thời gian đó mà làm Dịch. Còn Cơ Tử giả cuồng, giả dại, đem thân ở đợ cho người, thời lại phát minh ra được vi ý Lạc Thơ của Đại Võ mà viết thành thiên Hồng Phạm Cửu Trù, truyền lại cho hậu thế. Như vậy chẳng đáng phục lắm sao?
Sự tiến bước mãi ắt dẫn tới lúc đau thương. Chính vì lẽ đó sau quẻ Hỏa Địa Tấn là đến quẻ Địa Hỏa Minh Di. Di ở đây chính là sự đau thương. Xét tượng hình của quẻ Minh Di thì có Khôn ở trên, Ly ở dưới. Quẻ này là sự ngược lại hoàn toàn đối với quẻ Tấn và ý nghĩa cũng trái
ngược theo. Hình quẻ tượng trưng cho hình ảnh mặt trời lặn xuống dưới lòng đất, ánh sáng bị che lấp, mờ phai để lại bóng tối bao trùm. Lúc này người hiền, người có tài phải biết cách giấu đi tài năng của mình mới thoát được nạn. Thời đại Minh Di là thời quân tử làm lơ cho tội lỗi của kẻ tiểu nhân, mù mờ trong nhiều việc, khó lòng sáng suốt hay soi sét vấn đề gì.
Sơ lược từng hào của quẻ Địa Hỏa Minh Di
Sơ Cửu : có chất minh, ở thời Minh Di phải trốn chạy ngay mới thoát nạn, mặc dù bị nghèo hèn. (Ví dụ Trang Tử từ chối không ra làm quan).
Lục Nhị : đắc trung đắc chính, nên ở thời Di cũng chạy trốn được và giữ vững trinh chính. (Ví dụ Từ Thứ ở với Tào Tháo mà vẫn giữ được lòng trung với chủ cũ là Lưu Bị).
Cửu Tam : trùng cương, có đủ tài để thoát nạn ở thời Di. Nhưng lại bất trung, e rằng quá nóng, nên có lời răn: không được quá gấp. (Ví dụ Tôn Kiên bất hòa với Viên Thiệu, sợ Thiệu bắt, vội trốn về Giang Đông, không dè bị Lưu Biểu mai phục đằng trước).
Lục Tứ : âm nhu đắc chính, vốn là người hiền ở vào cảnh nguy. Nhưng vì chính tâm nên có thể thoát ra được. (Ví dụ Tô Vũ bị Hung Nô cầm tù hơn 10 năm, rồi lại được về Hán).
Lục Ngũ : ở địa vị cao, bỏ đi làm kẻ nghèo hèn để tránh vạ. (Ví dụ Cơ Tử hoàng thân nhà Thương, trốn đi ẩn náu giả làm kẻ tôi tớ). Thượng Lục : ở vị tột cao, nhưng lại quá hôn ám, nên bị xụp xuống đất. (Ví dụ: thượng hoàng Trần Nghệ Tông).
Ý nghĩa của quẻ Địa Hỏa Minh Di
Quẻ Địa Hỏa Minh Di là sự biến thể của quẻ Thiên Thủy Tụng. Quẻ Tụng biểu tượng cho sự tranh cãi, kiện tụng giữa cấp trên là người có quyền thế với cấp dưới là người dưới sự lãnh đạo. Còn quẻ Minh Di thì giai đoạn tranh cãi, hay kiện tụng đã qua, đây là thời kỳ vùi lấp đi tài trí dưới những điều mê muội, mù mờ.
Minh Di được hiểu là sự tăm tối, dập tắt. Tượng quẻ của Minh Di là Minh Nhật Địa Trung là mặt trời lặn xuống mặt đất thể hiện ý nghĩa lửa đằng xa rọi ánh sáng xa đang dần xế tà. Từ đó chiêm quẻ báo hiệu một tương lai mù mịt, thời vận xấu đầy khó khăn.
Quẻ Địa Hỏa Minh Di tốt cho việc gì?
Quẻ Địa Hỏa Minh Di là quẻ mang điềm xấu, trong thời kỳ quẻ này tốt nhất không nên thực hiện bất kỳ đại nghiệp hay dự định to lớn nào từ công danh sự nghiệp, hôn nhân gia đạo, tình duyên cho tới kinh doanh buôn bán. Quẻ chỉ rõ ra rằng cần biết xử thế để tránh khỏi bị Di. Muốn tránh Di thì cần sáng suốt theo Ly và nhu thuận theo Khôn thì tình thế bất lợi mới phần nào được giảm sút.
Sáu hào của quẻ
Hào 1 · Sơ Cửu
có chất minh, ở thời Minh Di phải trốn chạy ngay mới thoát nạn, mặc dù bị nghèo hèn. (Ví dụ Trang Tử từ chối không ra làm quan).
Hào 2 · Lục Nhị
đắc trung đắc chính, nên ở thời Di cũng chạy trốn được và giữ vững trinh chính. (Ví dụ Từ Thứ ở với Tào Tháo mà vẫn giữ được lòng trung với chủ cũ là Lưu Bị).
Hào 3 · Cửu Tam
trùng cương, có đủ tài để thoát nạn ở thời Di. Nhưng lại bất trung, e rằng quá nóng, nên có lời răn: không được quá gấp. (Ví dụ Tôn Kiên bất hòa với Viên Thiệu, sợ Thiệu bắt, vội trốn về Giang Đông, không dè bị Lưu Biểu mai phục đằng trước).
Hào 4 · Lục Tứ
âm nhu đắc chính, vốn là người hiền ở vào cảnh nguy. Nhưng vì chính tâm nên có thể thoát ra được. (Ví dụ Tô Vũ bị Hung Nô cầm tù hơn 10 năm, rồi lại được về Hán).
Hào 5 · Lục Ngũ
ở địa vị cao, bỏ đi làm kẻ nghèo hèn để tránh vạ. (Ví dụ Cơ Tử hoàng thân nhà Thương, trốn đi ẩn náu giả làm kẻ tôi tớ).
Hào 6 · Thượng Lục
ở vị tột cao, nhưng lại quá hôn ám, nên bị xụp xuống đất. (Ví dụ: thượng hoàng Trần Nghệ Tông).
Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn
Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 186–190, biên soạn: simphongthuy.vn.
Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.
Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.