噬嗑:亨。 利用獄。
Phệ Hạp. Hanh. Lợi dụng ngục.
Cản trước, rồi ra mới hợp sau, Ngục hình dùng đúng, lợi biết bao.
Hình tượng quẻ
Thượng quái Ly tượng lửa, hạ quái Chấn tượng sấm. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.
Phân tích toàn quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Thoán từ
噬 嗑:亨。 利 用 獄。
Phệ Hạp. Hanh. Lợi dụng ngục.
Dịch.
Cản trước, rồi ra mới hợp sau,
Ngục hình dùng đúng, lợi biết bao.
Thoán Từ trước hết giải hai chữ Phệ Hạp, là nghiền nát để hợp. Ý muốn nói nghiền nát hay trừng trị kẻ ngoan ngạnh trong xã hội, để xã hội được hoà hợp. Vì thế, Thoán Từ nói Phệ Hạp hanh.
Thoán Truyện.
彖 曰 : 頤 中 有 物,曰 噬 嗑,噬 嗑 而 亨。剛 柔 分,動 而 明 ,雷 電 合 而 章。柔 得 中 而 上 行,雖 不 當 位,利 用 獄 也。
Thoán viết:
Di trung hữu vật. Viết Phệ Hạp. Phệ Hạp nhi hanh. Cương Nhu phân.
Động nhi minh. Lôi điện hợp nhi chương. Nhu đắc trung nhi thượng hành.
Tuy bất đáng vị. Lợi dụng ngục dã.
Dịch.
Vật cứng ngáng mồm là Phệ Hạp,
Cắn nghiền ra, rồi hợp mới hay.
Cứng, mềm, minh biện, phơi bầy,
Uy nghi, sáng suốt, ai tày phong quang.
Như sấm chớp rỡ ràng, lẫm liệt.
Tuy khoan Nhu, siêu việt ngôi trên.
Vị ngôi tuy chẳng ấm êm,
Nhưng khi gia phạt, cũng nên Nhu hòa.
Thoán Truyện nói: Phệ Hạp nhi hanh. Có trừng trị kẻ gây rối rồi, thì xã hội mới được hanh thông, an lạc.
Phệ Hạp có Ly = Nhu ở trên, Chấn = Cương ở dưới. Cương, Nhu lưỡng dụng đều đặn, phân minh. Ý nói khi áp dụng hình phạt, cũng như khi xử tội, phải áp dụng cả Cương lẫn Nhu (Cương Nhu phân).
Phệ Hạp có Chấn là Động, Ly là Minh, ý nói khi xử đoán tội tình cũng như thi hành hình phạt vừa minh, vừa uy (Động nhi minh). Minh, Uy phối hợp với nhau, sẽ như sấm chớp dẹp tan mọi chếch mác, đem hòa hợp và trị bình lại cho đất nước, vì thế nói: Lôi điện hợp nhi chương. Thoán Truyện viết tiếp: Âm Nhu đắc trung nhi thượng hành. Âm mà ở ngũ, thời đâu có đáng ngôi vị, nhưng mà đối với các công cuộc hình án, thời nó là
Nhu mà cư Cương. Lòng vốn tốt, nhưng nghiêm, Cương để bảo trì luật pháp cũng là hay rồi. Thoán Truyện, vì thế viết tiếp: Tuy bất đáng vị. Lợi dụng ngục dã.
Nhân tình khả quan, sau có chỗ hợp, tiếp sau quẻ Phong Địa Quán là quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp. Hạp ở đây là hợp, Phệ Hạp là sự cắn nát, những mối giãn cách gây ra chia rẽ. Tượng hình của quẻ Phệ Hạp có Ly (Hỏa) ở trên, Chấn (Lôi) ở dưới thể hiện lửa có sức sáng rõ, sấm gây ra đức động. Cũng có thể hình dung quẻ này giống như một cái hàm của miệng con người, ở giữa hàm có cái quai cản ngang. Theo Tiên vương thì xem đó giống như hình phạt, trừ phạt được kẻ gian dẫn tới hanh thông vô cùng.
Sơ lược từng hào của quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Sơ Cửu : tượng trưng cho đứa gây chia rẽ, còn non, ở thời Phệ Hạp phải trừng trị, nhưng mới phạm tội nhỏ, nên phạt nhẹ để giáo hóa.
Lục Nhị : đắc chính đắc trung, rất hợp với dụng cụ dụng hình. Dám dùng hình phạt nặng đối với kẻ gian ác. Vô cựu, vì tội tại người thụ hình, không phải tại người dụng hình. (Ví dụ Bao Công đời Tống).
Lục Tam : ở trên hạ quái, nên ở thời Phệ Hạp cũng có quyền dụng hình. Nhưng vì bất trung,nên làm việc dụng hình gặp khốn nạn, người thụ hình không tâm phục. (Ví dụ Lê Quý Đôn khi xử án Trịnh Khải).
Cửu Tứ : cương trực, dám đối phó với khó khăn, có thể làm nổi việc dụng hình. Nhưng vì tứ bất chính trung, e sẽ có việc lầm, nên thánh nhân khuyên nên giữ vững chính đạo mới được Cát. (Ví dụ Đặng trần Thường vì tư thù sai đánh Ngô Thời Nhiệm đến chết, sau chính Thường cũng bị Gia Long xử tử).
Lục Ngũ : ở vị chí tôn, âm nhu, nhưng được Cửu tứ là người minh đoán giúp đỡ, nên vượt qua được mọi khó khăn. Nhưng ở thời Phệ Hạp, có nhiều kẻ ly gián, nên phải cẩn thận xa chúng mới được vô cựu. (Ví dụ Tống Nhân Tông nghe lời Bao Công, trị được gian thần; trái lại Ngô Phù Sai cự lời gián can của Ngũ tử Tư, chỉ theo lời xiểm nịnh của thái tể Bá Hi).
Thượng Cửu : cũng như Sơ Cửu, cường ngạnh, nhưng tộị ác lớn hơn nhiều, cần phải trừng phạt nặng. (Ví dụ Hitler khi lên cầm quyền, làm loạn Âu Châu, mà các cường quốc Anh-Pháp cứ nhượng bộ hoài, nên sau gây vạ lớn).
Ý nghĩa của quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Quẻ Phệ Hạp nương theo tượng quẻ, với hào Thượng Cửu, hào Sơ Cửu giống như một hàm răng, có hào Cửu Tứ giữa miệng ngáng qua. Quẻ này ứng với một tình thế bị ngáng trở, không thể thông suốt được. Cho nên phải tìm cách trừ bỏ yếu tố ngăn trở đó. Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp chính là sự cắn đứt cái ngang trở, trừng trị, hình phạt.
Dịch nghĩa quẻ Phệ Hạp có những cách lý giải khác nhau từ những quan điểm khác nhau. Thế nên hiểu một cách rõ nhất về quẻ Phệ Hạp chỉ nên giữ hình ảnh của Lửa ở trên Sấm sét. Đó là sự hợp tác về mặt trí tuệ. Lửa soi sáng và thể hiện quyền lực đàn áp của sấm để làm một cái gì đó, đòi hỏi người giải quyết phải có hai đức tính song hành là trí tuệ, sự sáng suốt cùng lòng can đảm.
Tượng quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp “Lôi Điện” nghĩa là sấm điện, ý nói sự trắc trở, khó khăn và gian truân ở phía trước. Nếu muốn thành công phải dẹp tan sự trở ngại đó bằng cách giống như nhai nát ra vậy.
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp tốt cho việc gì?
Quẻ Phệ Hạp bề ngoài có một số trở ngại, ngăn trở công việc nên tưởng chừng là xấu, nhưng thực sự lại hanh nếu biết cách đập tan những trở ngại đó. Đập tan bằng lối ứng xử trí tuệ, không áp đặt. Quẻ này có thể dụng để hình trừ điều gian, có thể giải quyết các vấn đề về tình duyên, gia đạo, công danh,... đem đến những thành quả không quá to lớn nhưng cũng ở mức độ ổn định, chấp nhận được.
Sáu hào của quẻ
Hào 1 · Sơ Cửu
tượng trưng cho đứa gây chia rẽ, còn non, ở thời Phệ Hạp phải trừng trị, nhưng mới phạm tội nhỏ, nên phạt nhẹ để giáo hóa.
Hào 2 · Lục Nhị
đắc chính đắc trung, rất hợp với dụng cụ dụng hình. Dám dùng hình phạt nặng đối với kẻ gian ác. Vô cựu, vì tội tại người thụ hình, không phải tại người dụng hình. (Ví dụ Bao Công đời Tống).
Hào 3 · Lục Tam
ở trên hạ quái, nên ở thời Phệ Hạp cũng có quyền dụng hình. Nhưng vì bất trung,nên làm việc dụng hình gặp khốn nạn, người thụ hình không tâm phục. (Ví dụ Lê Quý Đôn khi xử án Trịnh Khải).
Hào 4 · Cửu Tứ
cương trực, dám đối phó với khó khăn, có thể làm nổi việc dụng hình. Nhưng vì tứ bất chính trung, e sẽ có việc lầm, nên thánh nhân khuyên nên giữ vững chính đạo mới được Cát. (Ví dụ Đặng trần Thường vì tư thù sai đánh Ngô Thời Nhiệm đến chết, sau chính Thường cũng bị Gia Long xử tử).
Hào 5 · Lục Ngũ
ở vị chí tôn, âm nhu, nhưng được Cửu tứ là người minh đoán giúp đỡ, nên vượt qua được mọi khó khăn. Nhưng ở thời Phệ Hạp, có nhiều kẻ ly gián, nên phải cẩn thận xa chúng mới được vô cựu. (Ví dụ Tống Nhân Tông nghe lời Bao Công, trị được gian thần; trái lại Ngô Phù Sai cự lời gián can của Ngũ tử Tư, chỉ theo lời xiểm nịnh của thái tể Bá Hi).
Hào 6 · Thượng Cửu
cũng như Sơ Cửu, cường ngạnh, nhưng tộị ác lớn hơn nhiều, cần phải trừng phạt nặng. (Ví dụ Hitler khi lên cầm quyền, làm loạn Âu Châu, mà các cường quốc Anh-Pháp cứ nhượng bộ hoài, nên sau gây vạ lớn).
Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn
Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 102–106, biên soạn: simphongthuy.vn.
Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.
Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.