Văn hóa phương Đông · Trí tuệ ngàn đờiThứ hai, 02/11/2026
← Thư viện 64 quẻ

QUẺ SỐ 11 · 泰

Địa Thiên Thái

Yên bình

Thượng quái: Khôn · Hạ quái: Càn

Gieo quẻ cho điều bạn đang hỏi →

Thoán từ

泰 . 小往大來 . 吉亨 . Thái. Tiểu vãng đại lai. Cát hanh. Thái là nhỏ nhặt ra đi, Lớn lao trở lại, muôn bề cát hanh.

Hình tượng quẻ

Thượng quái Khôn tượng đất, hạ quái Càn tượng trời. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.

Phân tích toàn quẻ Địa Thiên Thái

Thoán từ 泰 . 小 往 大 來 . 吉 亨 . Thái. Tiểu vãng đại lai. Cát hanh. Dịch. Thái là nhỏ nhặt ra đi, Lớn lao trở lại, muôn bề cát hanh. Thoán Truyện. Thoán viết. 泰 小 往 大 來 吉 亨 . 則 是 天 地 交 而 萬 物 通 也 . 上 下 交 而 其 志 同 也 . 内 陽 而 外 陰 . 内 健 而 外 順 . 内 君 子 而 外 小 人 . 君 子 道 長 . 小 人 道 消 也 . Thái. Tiểu vãng đại lai cát hanh. Tắc thị thiên địa giao nhi vạn vật thông dã. Thượng hạ giao nhi kỳ chí đòng dã. Nội Dương nhi ngoại Âm. Nội kiện nhi ngoại thuận. Nội quân tử nhi ngoại tiểu nhân. Quân tử đạo trưởng. Tiểu nhân đạo tiêu dã. Dịch. Thoán rằng: Nhỏ nhặt ra đi, Lớn lao trở lại, muôn bề cát hanh. Đất trời gom góp công trình, Làm cho vạn vật, quần sinh vui vầy. Dưới trên cộng tác hòa hài, Một lòng, một dạ, hết bài phân chia. Dương trong, Âm ở ngoài lề, trong cương ngoài thuận, hai bề vẹn hai. Quân tử trong, tiểu nhân ngoài, Thịnh đời quân tử, suy đời tiểu nhân. Thoán Từ, Thoán Truyện chủ trương: 1/ Trời đất có hài hòa, có cộng tác, vạn vật mới được vinh xương, thái thịnh. 2/ Các tầng lớp nhân dân trong xã hội có hòa hài, có đồng tâm, đồng chí, quốc gia mới đi đến chỗ thái thịnh. 3/ Trong mà đã hay, thì dẫu ngoài có dở, sau trước sau cũng sẽ hay. Nói cách khác, tinh thần quốc dân mà cao, thì những khuyết điểm vật chất ngoại cảnh bên ngoài, sau trước cũng sẽ được giải quyết. 4/ Quân tử cầm quyền, tiểu nhân phục mệnh, nước nhà mới thái thịnh. 5/ Suy rộng ra, ở nơi con người, nếu tinh thần làm chủ vật chất làm tôi, thì mới có thể có sự quân bình, thái thịnh chân chính. 6/ Nói theo đạo lý, chỉ khi nào Trời làm chủ chốt trong tâm, chỉ khi nào Thiên tại nội, nhân tại ngoại, như lời Trang Tử, thì con người mới được thái thịnh. Lễ nghĩa là đường lối người quân tử. Tranh đoạt, tàn sát là đường lối tiểu nhân. Lối đường quân tử mà được theo sẽ đem đến thái thịnh. Lối đường tiểu nhân mà được theo, sẽ đưa đến suy bĩ. Hiểu được lẽ đó, sẽ hiểu được lý do của sự thịnh suy, trị loạn, rõ như thấy ngọn đèn vậy. Có Lễ mới có được an ổn, vậy nên sau quẻ Lý sẽ đến quẻ Địa Thiên Thái. Quẻ Thái được hình dung bởi thượng quái Khôn, hạ quái Càn tượng trưng cho khí âm đang trọng trọc đến thì hạ xuống, còn ngược lại khí Dương thì thanh bay lên. Tạo nên nhị khí giao hòa, vạn vật trên thế gian đều được hanh thông. Tượng quẻ có âm có dương thể hiện có cả tiểu nhân và quân tử tuy ngang sức nhưng khí dương đang tiến, khí âm lại ở thế lui nên khí dương dễ thành thắng thế.

Sơ lược từng hào của quẻ Địa Thiên Thái

Sơ Cửu : tài cao, vị thấp, cùng tiến tới Cửu Nhị, Cửu Tam, tốt. (Như học trò thông minh, mới vào học còn bỡ ngỡ, được bạn tốt dìu dắt, dễ tiến) Cửu Nhị : tài cao, lại ứng với Lục Ngũ, được giao phó trọng trách. Thi hành đạo quân tử, gồm cả ân uy (dương hào cư âm vị, đắc trung), thì thiên hạ sẽ thái bình. (Ví dụ: sau khi lấy được đất Thục, Khổng Minh đặt ra luật lệ mới để thưởng phạt đúng mức, vẫn có độ lượng nhưng không còn quá lỏng lẻo để dân chúng khinh nhờn như với Lưu Chương) Cửu Tam : trùng dương bất trung, đáng lẽ không tốt. Nhưng ở quẻ Thái, lại nằm trên hai dương, là bậc đàn anh quân tử, nên tốt. Tuy nhiên, cảnh Thái, đã tột độ, theo lẽ biến dịch sẽ sang cảnh Bĩ. Người quân tử không lo sợ, nếu thấy mầm loạn cứ bình tĩnh đối phó thì thái bình sẽ giữ được. (Ví dụ thời Trịnh Căn, Trịnh Cương là thời cực thịnh của họ Trịnh. Đến Trịnh Giang vô đạo nên loạn lạc lung tung. May được Trịnh Doanh lên thay, gần hiền xa nịnh, nên cơ đồ họ Trịnh còn được thịnh vượng vài chục năm nữa) Lục Tứ : mặc dù còn ở thời Thái, mầm họa đã nẩy, Lục Tứ âm nhu, để cho nhị âm ở trên toa rập cùng làm bậy, khiến cho thế nước ngửa nghiêng. (Ví dụ thời Linh đế nhà Hán còn tương đối vững chắc, chỉ vì bọn hoạn quan làm lộng và tướng quốc Hà Tiến ngu tối, nên gây họa Đổng Trác, mở đầu cho thời loạn Tam quốc) Lục Ngũ : ở vị chí tôn, biết hạ mình tin theo hiền thần là Cửu Nhị, nên được Cát. (Ví dụ Thành Vương biết tin cẩn Chu công Đán, nên giữ vững được cơ nghiệp đã bị đe dọa bởi cuộc loạn do con cháu nhà Thương và chính các chú Thành Vương cầm đầu).

Ý nghĩa của quẻ Địa Thiên Thái

Tượng quẻ rất rõ rệt: các hào dương ở dưới có khí thế xông lên xua đuổi các hào âm, tượng trưng cho thời kỳ thái bình, quân tử cầm quyền, tiểu nhân không lũng loạn được. Quẻ Địa Thiên Thái biểu tượng cho sự yên bình, thái bình hay sự hòa hợp. Tượng quẻ Thái có hào Dương ở dưới thể hiện thời kỳ thái bình, tiểu nhân không nhũng loạn được, quân tử đứng ra cầm quyền. Quẻ này chiêm đoán mọi việc đều được hanh thông, lớn mạnh, phát triển không ngừng. Càng hy vọng càng có triển vọng tốt đẹp và được bình yên. Hình ảnh quẻ là thiên địa giao được hiểu là trời đất đang thì giao nhau khiến thời vận cũng như mệnh số của con người tốt lên. Mọi sự như ý, tốt đẹp hết sức, tương lai mở rộng.

Quẻ Địa Thiên Thái tốt cho việc gì?

Quẻ Thái có đức bao dung của hào Cửu Nhị, có sự điềm tĩnh của hào Cửu Tam, có khiêm cung hạ sĩ của hào Lục ngũ nên bậc quân tự ân uy đủ cả, hăng hái giúp đời. Trong quẻ có hào Sơ, hào Nhị, hào Tam bền vững vô cùng. Hào Tứ, hào Ngũ, hào Cửu Nhị hơi suy nhưng vẫn giữ được thái bình. Cho nên công danh sự nghiệp có gặp trắc trở sau cũng được tốt lên. Chỉ cần đề phòng sự suy vi biến đổi, ắt sự nghiệp được như ý. Gặp quẻ Thái tài lộc kinh doanh tốt, chọn làm ăn buôn bán sẽ thu được lợi nhuận gấp nhiều lần. Tình yêu hôn nhân được hoà thuận, trong ấm ngoài êm, hạnh phúc trọn đời.

Sáu hào của quẻ

Hào 1 · Sơ Cửu

tài cao, vị thấp, cùng tiến tới Cửu Nhị, Cửu Tam, tốt. (Như học trò thông minh, mới vào học còn bỡ ngỡ, được bạn tốt dìu dắt, dễ tiến)

Hào 2 · Cửu Nhị

tài cao, lại ứng với Lục Ngũ, được giao phó trọng trách. Thi hành đạo quân tử, gồm cả ân uy (dương hào cư âm vị, đắc trung), thì thiên hạ sẽ thái bình. (Ví dụ: sau khi lấy được đất Thục, Khổng Minh đặt ra luật lệ mới để thưởng phạt đúng mức, vẫn có độ lượng nhưng không còn quá lỏng lẻo để dân chúng khinh nhờn như với Lưu Chương)

Hào 3 · Cửu Tam

trùng dương bất trung, đáng lẽ không tốt. Nhưng ở quẻ Thái, lại nằm trên hai dương, là bậc đàn anh quân tử, nên tốt. Tuy nhiên, cảnh Thái, đã tột độ, theo lẽ biến dịch sẽ sang cảnh Bĩ. Người quân tử không lo sợ, nếu thấy mầm loạn cứ bình tĩnh đối phó thì thái bình sẽ giữ được. (Ví dụ thời Trịnh Căn, Trịnh Cương là thời cực thịnh của họ Trịnh. Đến Trịnh Giang vô đạo nên loạn lạc lung tung. May được Trịnh Doanh lên thay, gần hiền xa nịnh, nên cơ đồ họ Trịnh còn được thịnh vượng vài chục năm nữa)

Hào 4 · Lục Tứ

mặc dù còn ở thời Thái, mầm họa đã nẩy, Lục Tứ âm nhu, để cho nhị âm ở trên toa rập cùng làm bậy, khiến cho thế nước ngửa nghiêng. (Ví dụ thời Linh đế nhà Hán còn tương đối vững chắc, chỉ vì bọn hoạn quan làm lộng và tướng quốc Hà Tiến ngu tối, nên gây họa Đổng Trác, mở đầu cho thời loạn Tam quốc)

Hào 5 · Lục Ngũ

ở vị chí tôn, biết hạ mình tin theo hiền thần là Cửu Nhị, nên được Cát. (Ví dụ Thành Vương biết tin cẩn Chu công Đán, nên giữ vững được cơ nghiệp đã bị đe dọa bởi cuộc loạn do con cháu nhà Thương và chính các chú Thành Vương cầm đầu).

Hào 6 · Thượng Lục

Thành trở lại hào; không nên dùng sức đối đầu. Khi chu kỳ thuận lợi đã tới giới hạn, cần giữ nền tảng, rà soát việc trong phạm vi mình kiểm soát và tránh mở rộng xung đột.

Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn

Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 51–55, biên soạn: simphongthuy.vn.

Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.

PDF thiếu hào 6. Phần bổ sung được biên soạn từ Thượng Lục của quẻ Thái, không gán là nguyên văn PDF.

Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.